Người thầy tốt nhất là người thầy khơi gợi chứ không giáo điều, và truyền cho học trò mình mong muốn tự dạy bản thân "

Ngày 26 tháng 10 năm 2014

ĐĂNG NHẬP TÀI KHOẢN

 » Tin tức

Tin tức

Cập nhật lúc : 12:01 16/08/2013  

BÁO CÁO TỔNG KẾT NĂM HỌC 2012 – 2013 PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM HỌC 2013-2014

Năm học 2012-2013 là năm học tiếp tục quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; Xây dựng và triển khai Chương trình hành động của ngành; thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ. Với sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, của Sở Giáo dục và Đào tạo, chính quyền các cấp, sự nỗ lực phấn đấu của ngành từ huyện đến cơ sở nên đã tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục của huyện nhà.

PHẦN THỨ I

TỔNG KẾT NHIỆM VỤ NĂM HỌC 2012-2013

        I. Tình hình và bối cảnh triển khai nhiệm vụ năm học 2012 – 2013


            Năm học 2012-2013 là năm học tiếp tục quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; Xây dựng và triển khai Chương trình hành động của ngành; thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ.

Với sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, của Sở Giáo dục và Đào tạo, chính quyền các cấp, sự  nỗ lực phấn đấu của ngành từ huyện đến cơ sở nên đã tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục của huyện nhà.

Phòng Giáo dục và Đào tạo triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học 2012-2013 có những thuận lợi, khó khăn, đó là:

1/ Thuận lợi:

- Quán triệt sâu sắc các văn bản chỉ đạo của TƯ và các Bộ, ngành liên quan , bám sát chương trình hành động của ngành, của cấp ủy, chính quyền địa phương với mục tiêu “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”.

- Phòng GD&ĐT được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Thường vụ Huyện ủy, UBND huyện, Sở GD&ĐT tỉnh Thừa Thiên Huế trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo của huyện nhà; sự phối hợp khá chặt chẽ giữa phòng giáo dục và các cơ quan ban ngành liên quan, các cấp ủy, chính quyền xã, thị trấn, sự đồng tình ủng hộ của nhân dân;

- Cơ sở vật chất trường lớp ngày càng được xây dựng mới và tu sửa khang trang, bảo đảm an toàn cho thầy và trò hơn; đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên cũng đã được bổ sung khá đầy đủ, tạo điều kiện để giáo dục phát triển đồng đều giữa các ngành học, bậc học, giữa các vùng, miền, khu vực.

- Tiếp tục củng cố, phát huy những thành quả đạt được trong các năm học trước về công tác PCGD tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập THCS và trường đạt chuẩn quốc gia; tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của nhân dân; công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng được đẩy mạnh.

2/ Khó khăn:

- Địa bàn hoạt động vừa dài vừa rộng, nhiều cơ sở, nhiều điểm trường nên việc chỉ đạo, điều hành, kiểm tra có lúc không kịp thời và thiếu sâu sát; địa hình phức tạp gây trở ngại không ít trong việc đi lại học tập của học sinh nhất là mùa mưa bão.

- Cơ sở vật chất tuy những năm gần đây đã được bổ sung nhiều nhờ nguồn kiên cố hóa trường học và lồng ghép các dự án, ngân sách địa phương nhưng nhiều trường học hiện tại vẫn còn rất khó khăn cả về phòng ốc lẫn trang thiết bị bên trong nhất là ngành học mầm non;

- Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tuy có cải thiện khá hơn nhưng vẫn còn thấp; người dân chủ yếu sống bằng nghề nông nên việc quan tâm đầu tư cho con em học hành còn nhiều hạn chế.

       II. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ năm học 2012 - 2013

             1. Thực hiện các cuộc vận động và phong trào thi đua " Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực".

            1.1 Cuộc vận động học tập và làm tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

           - Toàn thể CB-GV và NV đều tham gia học tập quán triệt, nghiên cứu  chuyên đề về “Tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh” năm 2013 đó là: Phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương, nêu cao trách nhiệm, gương mẫu của cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ chủ chốt các cấp do ngành và địa phương tổ chức;

           - Sau nhiều năm thực hiện cuộc vận động, đội ngũ CBGV NV các  ngành học, bậc học trên địa bàn huyện đã xác định rõ trách nhiệm của mình không ngừng ra sức phấn đấu học tập nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao tay nghề, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình trong thực thi công việc được phân công để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; điển hình nhất là các tập thể CBGV trường MN Hưng Lộc, trường MN Lộc Sơn, trường MN Hoa Anh Đào, trường MN Vinh Mỹ, trường MN Bắc Hà, trường MN Vinh Hải.., Tiểu học số 1 Lộc Trì, Tiểu hoc Vinh Giang, Tiểu học Vinh Hưng 1, Tiểu học An Nong 1, Tiểu học Lộc Sơn 1, Tiểu học An Lương Đông..., THCS Lộc Trì, THCS Thị Trấn Phú Lộc, THCS Lâm Mộng Quang, THCS Lộc Điền...

           - Đối với học sinh các cấp học đã tập trung giáo dục các nội dung: lễ phép, kính trọng ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo, người lớn tuổi; thương yêu giúp đỡ bạn bè, xây dựng lối sống văn minh trong ứng xử, giao tiếp, không vi phạm nội quy nhà trường; thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy…

1.2 Kết quả triển khai thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”:

Phong trào thi đua " XDTHTT-HSTC" đã tạo được chuyển biến sâu rộng, có hiệu quả thiết thực, xây dựng được môi trường thân thiện trong trường học, giữa nhà trường với gia đình và xã hội góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

Đến thời điểm này, đã có 100% trường các ngành học được Sở GD&ĐT cấp giấy chứng nhận đạt loại Tốt trở lên.

2. Phát triển quy mô, mạng lưới cơ sở giáo dục các bậc học:

2.1 Bậc học mầm non:

- Tổng số trường gồm có 22 trường với 231 nhóm, lớp. Trong đó, nhà trẻ: 37 nhóm; mẫu giáo:194 lớp ( 5 tuổi: 106 lớp).

-  Số cháu được huy động vào các nhà nhóm trẻ là 843/9454 cháu (37 nhóm), đạt tỷ lệ 8.9% theo thống kê của tỉnh, (843/5642 đạt tỷ lệ 14.94% theo điều tra thực tế). So với năm học trước tăng 29 cháu, tỷ lệ 4.5%.

- Số cháu mẫu giáo ra lớp 5.546/8.709 cháu (194 lớp), đạt tỷ lệ 63,70%, theo TK tỉnh, (5.546/7404 đạt tỷ lệ 74.91%, theo TKĐT thực tế). Số lớp mẫu giáo 5 tuổi gồm 106 lớp với 2.412/2474 (trong đó có 340 trẻ theo bố mẹ đi làm ăn xa) đạt tỷ lệ 97,49%.

2.2 Bậc học phổ thông:

a/ Tiểu học:

Bậc tiểu học huy động được 13.127em, tỷ lệ đạt so kế hoạch 96,6%, trong đó số trẻ 6 tuổi huy động ra lớp Một  :2232/2248, tỷ lệ: 99.3%.

Cuối năm còn : 13088 em, giảm 39em;

 Trong đó :

+ Chuyển trường : 20 em ;

+ Chết 03 em ;

+ Bỏ học : 16 em (ốm dài hạn: 2 em, lớn tuổi:3 em, lý do khác:11em). Tỷ lệ bỏ học 0,12%, so năm học trước tỷ lệ học sinh bỏ học không tăng.

b/ Trung học cơ sở:

- Số học sinh huy động đầu năm học10.449 em/10.969 em tỷ lệ đạt so kế hoạch 95,25%, cuối năm học còn 10092 em, giảm 357 em; trong đó chuyển trường 126 em, học nghề 79 em, bỏ học 152 em, tỷ lệ 1,51%, so năm học trước tỷ lệ học sinh bỏ học giảm 0,3%.

c/ Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục trẻ màm non 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập THCS và xây dựng trường chuẩn Quốc gia

- Công tác PCGDMN cho trẻ 5 tuổi:

Đến nay toàn huyện đã có 16/18 xã, thị trấn hoàn thành Phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi , tỷ lệ 88,89%, còn 02 đơn vị ( Lộc Tiến và thị trấn Lăng Cô) sẽ hoàn thành trong năm học 2013-2014.

- Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi 2012:

- Huy động trẻ 6 tuổi ra lớp 1: 2232em /2248em. Tỷ lệ: 99.3%;

- Trẻ 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học: 2408 em /2714em. Tỷ lệ: 88,7%;

- Tổng số trẻ ở độ tuổi 11-14 đã tốt nghiệp tiểu học: 10180 em/10739 em. Tỷ lệ: 94.79%.

- Số còn lại đang học các lớp tiểu học: 294 em/2714 em. Tỷ lệ: 10.8%;

- Số học sinh học 9-10 buổi tuần: 9167 em/13127 em. Tỷ lệ: 69,8%;

- Học bán trú 100 em, tỷ lệ 0,8%;

- Hiệu quả đào tạo: 2759 em/2879 em. tỷ lệ 95,83%;

- PCGDTH đúng độ tuổi mức độ 2 có 4 xã: Lộc Trì, Vinh Giang, Lộc Hòa, Vinh Mỹ, tỷ lệ 22,22%.

- Phổ cập THCS:

- Số HS tốt nghiệp tiểu học năm qua vào học lớp 6: 2701em/2745 em, tỷ lệ: 98.4%;

- Học sinh THCS huy động 10.309em, tỷ lệ 95,4%;

- 100% xã, thị trấn phổ cập giáo dục trung học cơ sở;

- Số tốt nghiệp tiểu học năm học 2011-2012: 2697 em/2714em. Tỷ lệ: 99.42%;

- Huy động số học sinh tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6: 2656 em/2697 em. Tỷ lệ: 98,5%; 

- Xây dựng trường chuẩn Quốc gia, Kiểm định chất lượng: 

a/ Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia:

- Đạt Mức chất lượng tối thiểu: (06 trường) TH Số 1 Thị Trấn Phú Lộc, TH Vinh Hải, TH Số 2 Vinh Hưng, TH Số 2 An Nong, TH Sư Lỗ Đông, TH Đại Thành;

- Đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1: (11 trường) MN Hưng Lộc, MN Hoa Anh Đào,  TH Số 1 Lộc Sơn, TH Tiến Lực, TH An Lương Đông, TH Số 2 Thị Trấn Phú Lộc, TH Số 1 Nước Ngọt, TH Vinh Giang, TH Vinh Mỹ, TH Số 1 Vinh Hưng, THCS Lộc Điền;

- Đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2: ( 01 trường) Trường TH Số 1 Lộc Trì;

- Phòng GD&ĐT đã tích cực tham mưu lãnh đạo huyện thực hiện đề án, lộ trình cụ thể để đẩy mạnh xây dựng trường chuẩn quốc gia từ nay đến năm 2015. Gắn việc công nhận PCGDTHĐĐT mức độ 2, tổ chức lớp học 2 buổi/ngày, trường đạt chuẩn quốc gia với việc xét công nhận Tập thể Lao động tiên tiến, Lao động xuất sắc;

100% trường mầm non, tiểu học và THCS  xây dựng và củng cố trường đạt chuẩn quốc gia đều được kết nối internet và phải xây dựng  được website riêng.

- Phòng GD&ĐT tham mưu, đề xuất lãnh đạo huyện xây dựng Trường Tiểu học Số 1 Lộc Trì là trường tiểu học theo mô hình chất lượng cao của huyện;

b/ Kiểm định chất lượng:

Phòng đã chỉ đạo các trường đẩy nhanh tiến độ công tác kiểm định chất lượng theo đúng lộ trình và tiến độ của ngành. Đến thời điểm này đã hoàn thành công tác đánh giá ngoài cho 01 trường mầm non: MN Hoa Anh Đào; 04 trường tiểu học: Số 1 Nước Ngọt, TH Số 1 Lộc Trì, TH Số 1 Vinh Hưng, TH Vinh Giang và 03 trường THCS: THCS Lâm Mộng Quang, THCS Thị Trấn, THCS Lộc Điền.

3. Thực hiện kế hoạch giáo dục của các ngành học:


3.1.Giáo dục Mầm non:

- Tham mưu cấp ủy, chính quyền từ huyện đến xã, thị trấn tập trung đầu tư cho Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi;

          - Thực hiện tốt công tác tuyên truyền đối với các bậc phụ huynh, với cộng đồng về việc chăm sóc vệ sinh phòng bệnh và nuôi dưỡng trẻ;          

          - Đẩy mạnh công tác xã hội hóa tăng thêm nguồn kinh phí nhằm mua sắm các điều kiện phục vụ cho việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ;

          - Kết hợp chặt chẽ với ngành y tế trong việc khám sức khoẻ, tiêm chủng phòng chống dịch bệnh cho trẻ. Đặc biệt trong năm học 2012-2013 phòng đã phối hợp với Y tế kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm và các bếp ăn đạt tiêu chuẩn VSATTP 2 lần đối với tất cả các trường MN trên địa bàn. 100% trường MN đạt tiêu chuẩn VSATTP;

          - Chỉ đạo quan tâm cải thiện chất lượng bữa ăn, kết hợp với các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng khác nhằm giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng. Đến nay có 100% trường MN tổ chức bán trú, số trẻ được ăn tại các cơ sở nhà trẻ, mẫu giáo lên tới 5188 cháu đạt tỷ lệ 81.2%,  so với cùng kỳ năm trước tăng 4,2%. Trẻ suy dinh dưỡng cân nặng ở nhà trẻ có 55/843 cháu, chiếm tỷ lệ 6.52% ; MG có 382/5546 chiếm tỷ 6.88%. Trẻ SDD ở dạng thấp còi: NTcó 45/843 cháu chiếm tỷ lệ 5.33%, MG có 321/5546 chiếm tỷ lệ 5.78%. Trong năm học vừa qua không có dịch bệnh, ngộ độc thức ăn xảy ra trong các trường mầm non;

             - Phòng chỉ đạo 22/22 trường MN trên địa bàn huyện tổ chức thực hiện chương trình mầm non mới. Các trường MN đã thực hiện đại trà chương trình này đến nay có 231/231 nhóm lớp thực hiện dạy theo chương trình GDMN mới, chiếm tỷ lệ 100%, tuy nhiên một số nhóm lớp ở các cơ sở lẻ chưa đủ điều kiện để thực hiện CT GDMN mới nên chất lượng chưa cao. Riêng lớp 5 tuổi có 100% số lớp chỉ có 1 độ tuổi thực hiện dạy theo chương trình, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1 được tốt.

            3.2. Giáo dục phổ thông: 

* Dạy học 2 buổi / ngày:

           - Năm học 2012 - 2013 có 26/30 trường tiểu học tổ chức cho học sinh học 9 buổi/tuần

(400 lớp/ 9985 học sinh); 4/30 trường còn lại (124 lớp/3142 học sinh)  học từ 6 - 8 buổi/tuần. 

- Trường Tiểu học Số 1 Lộc Trì đã tổ chức bán trú (nghỉ trưa, ăn trưa) cho học sinh ( 6 lớp/100 học sinh); tổ chức các hoạt động giáo dục trong giờ nghỉ trưa như xem phim, xem tivi, đọc sách, chơi các trò chơi dân gian...; đã tăng cường kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm để đảm bảo sức khỏe học sinh.

 - Đối với  bậc THCS, toàn huyện có 4 trường tổ chức dạy học 2 buổi/ngày: THCS Lâm Mộng Quang, THCS Vinh Giang, THCS Lộc Sơn và TH&THCS Lộc Hòa chiếm tỷ lệ 22,2%. Các trường dạy học theo hướng dẫn của Bộ với ít nhất 7 buổi/tuần, chú trọng ôn tập kiến thức, kỹ năng cho học sinh buổi 2 với các môn Toán, Văn, Tiếng Anh, Lý, Hóa và mở rộng sinh hoạt hình thức các CLB.

* Triển khai thí điểm mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) 

Trường Tiểu học Tiến Lực là 1/9 trường thí điểm của tỉnh dạy học theo mô hình trường tiểu học mới (VNEN), sau 2 năm thực hiện đã đạt được một số thành quả nhất định:

- Tạo sự gắn kết chặt chẽ với phụ huynh và cộng đồng nhằm phát huy vai trò tích cực của Ban đại diện cha mẹ học sinh và cộng đồng tham gia cùng nhà trường trong hoạt động giáo dục học sinh với các hình thức hoạt động phù hợp.

- Tập trung đổi mới hoạt động sư phạm, chuyển đổi từ dạy học truyền thụ của giáo viên sang tổ chức hoạt động tự học của học sinh, quá trình tự học, tự giáo dục là trung tâm của hoạt động giáo dục.

- Tích cực chuẩn bị thật tốt tiếng Việt cho học sinh, giúp trẻ có vốn tiếng Việt cơ bản, biết giao tiếp đơn giản trước khi thực hiện hoạt động dạy học.

* Triển khai thí điểm phương pháp "Bàn tay nặn bột"   

- Trường tiểu học Số 1 Lộc Trì và Số 1 Vinh Hưng dạy thí điểm phương pháp “Bàn tay nặn bột” đã được tập huấn dạy thí điểm 1 - 2 chủ đề ở môn Tự nhiên và Xã hội; môn Khoa học. Giáo viên được chủ động bố trí thời gian hợp lý để hướng dẫn học sinh học tập.

- Triển khai phương pháp “Bàn tay nặn bột” thí điểm cho 2 trường THCS Thị Trấn Phú Lộc và THCS Lộc Bổn với 2 bộ môn Vật lý và Sinh học. Các trường đều cử GV cốt cán tham gia dự giờ, góp ý với 4 tiết Vật lý (2 trường) và 04 tiết Sinh học.

-Dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số: Tiếp tục thực hiện công văn số 8114/BGDĐT ngày 15/9/2009 về việc Nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số; Công văn số 145/TB-BGDĐT ngày 02/7/2010 về việc Thông báo Kết luận của Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển tại Hội nghị giao ban tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số cấp Tiểu học. Các trường có học sinh dân tộc thực hiện việc chuẩn bị Tiếng Việt từ 2-3 tuần cho trẻ trước khi vào lớp 1 và dạy tăng buổi trong tuần hoặc dạy học 2 buổi/ngày cho đối tượng này.

- Giáo dục học sinh khuyết tật: Tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục cho trẻ khuyết tật, thực hiện có hiệu quả chính sách về người khuyết tật được thể hiện qua Quyết định số 23/2006/QĐ-BGDĐT Quy định về giáo dục hòa nhập cho người tàn tật, khuyết tật; Thông tư số 39/2009/TT-BGDĐT Quy định giáo dục hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và đặc biệt là Luật Người khuyết tật. Tỷ lệ huy động trẻ khuyết tật học hòa nhập đạt 80%; giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục chủ yếu. Giáo dục học sinh phù hợp đối tượng; điều chỉnh linh hoạt về tổ chức dạy học, nội dung phương pháp dạy học, đánh giá xếp loại cho phù hợp với mỗi đối tượng học sinh khuyết tật và đánh giá theo sự nỗ lực và tiến bộ của học sinh là chính.

3.3. Xếp loại giáo dục năm học 2012-2013:

a/ Tiểu học:

+ Xếp loại văn hóa:

 Giỏi: 5041em, tỷ lệ: 38.52%; Khá: 4573em, tỷ lệ: 34.94%;

Trung bình: 3301em, tỷ lệ: 25.22%; Yếu: 173em, tỷ lệ: 1.32%.

Tổng số học sinh được công nhận hoàn thành chương trình bậc tiểu học: 2759 em đạt 100%.

+ Xếp loại hạnh kiểm:

Thực hiện đầy đủ: 13087 em/13088 em, tỷ lệ: 99.99 %.

Chưa thực hiện đầy đủ: 1 em/13088, tỷ lệ: 0.01%

b/ THCS:

+ Xếp loại văn hóa:

- Tổng số học sinh: 10092 em;

Giỏi: 1473 em, tỷ lệ: 14,6%; Khá: 3540 em, tỷ lệ: 35,1%;

Trung bình: 4175 em, tỷ lệ: 41,4%; Yếu: 852 em, tỷ lệ: 8,4%; Kém: 52 em, tỷ lệ: 0,5%

+  Xếp loại hạnh kiểm:

Tốt: 8125 em, tỷ lệ: 80,5%; Khá: 1762 em, tỷ lệ: 17,5%;

Trung bình: 162 em, tỷ lệ: 1,6%; Yếu: 43 em, tỷ lệ: 0,4%.

- Tỷ lệ  Học sinh lớp 9 tốt nghiệp 99,06%.

- Học sinh đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh:

              * Bậc Tiểu học: có 46 em học sinh lớp 5 tham gia giao lưu học sinh giỏi Toán, Tiếng Việt cấp tỉnh đã đạt được 21 giải, trong đó có 05 giải Nhất, 04 giải Nhì, 05 giải Ba và 07 giải KK; riêng Trường TH Số 1 Lộc Trì chiếm 11/21 số giải;       Hội thi " Vở sạch-chữ đẹp" cấp tỉnh đạt 06 giải, trong đó có 03 giải Nhất, 02 giải Ba và 07 giải Khuyến khích, được Sở GD&ĐT đánh giá cao về chỉ đạo phong trào này ; Vẽ tranh trên máy tính bậc TH cấp tỉnh: 07 giải, trong đó có 02 giải Nhì và 05 giải Ba .Tham gia Olympic Tiếng Anh lớp 5 cấp tỉnh đạt 12 giải, trong đó: 02 giải Nhì, 02 giải Ba và 8 giải KK...

            * Đối với THCS:

+ HSG lớp 9: có 17 giải( 4 giải Nhì, 5 giải Ba, 8KK)

      + Giải toán trên MTCT : 05 giải ( 1Nhì, 4 KK)

      + I.O.E cấp tỉnh : 61 giải

      + I.O.E cấp quốc gia : 02 giải (1 HCĐ, 1 BDD)

      + Hùng biện Tiếng Anh THCS : 01 giải KK.

      + Điền kinh cấp tỉnh : 06 huy chương (1 vàng, 3 bạc, 2 đồng).

          c/ THPT

Tăng cường công tác giáo dục an toàn giao thông, phòng chống ma túy và tệ nạn xã hội, xây dựng trường học không khói thuốc lá, dạy học tích hợp giáo dục môi trường, tiết kiệm năng lượng, an ninh quốc phòng; tổ chức thực hiện công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông; triển khai thực hiện các quy chế quy định của ngành về công tác văn hóa, thể thao, công tác y tế học đường.

Tăng cường đổi mới phương pháp dạy học các bậc học; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng quản lý và dạy học; tăng cường sử dụng thiết bị dạy học; đổi mới kiểm tra, đánh giá để thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học.

Các đơn vị xây dựng và áp dụng ma trận đề kiểm tra, xây dựng ngân hàng đề thi. Các trường THCS và THPT tiến hành tổ chức thực hiện ra đề chung, kiểm tra chung và cắt phách chấm chung các tiết kiểm ta định kỳ và học kỳ.

Kết quả tốt nghiệp của các trường:

Học sinh THPT dự thi 1686 em, TN 1677 em tỷ lệ  99,46 %, (trong đó, các trường THPT An Lương Đông dự thi 476 em, TN 475em, tỷ lệ 99,79%, Thừa Lưu dự thi 427 em, TN 425 em, tỷ lệ 99,53%, Phú Lộc dự thi 366 em, TN 361 em, tỷ lệ 98,63% , Vinh Lộc dự thi 428 em, TN 427 em, tỷ lệ 99,97%, TTGDTX dự thi 50 em, TN 50 em, tỷ lệ 50%).

4. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL và giáo viên:

Ngành học mầm non:    

- Tổng số CBGVNV: 556 người. Biên chế 490 người.

           + CBQL: 40 người, HT: 16 người; P.HT: 24 người

           + TSGV: 409 người, đạt chuẩn trở lên 409 người, trong đó trên chuẩn: 199  người đạt tỷ lệ: 48.65%; biên chế: 388 người; - GVNT: 75người (trên chuẩn 35người); - GNMG: 334người (trên chuẩn:164)   -  GV5T: 212 người(trên chuẩn 133)

           + Nhân viên: 107 người, Văn thư: 16 người; K toán: 22 người, Y tế: 20 người, Bảo vệ:10 người, CD: 39 người.Biên chế: 62 người.

           - Kết quả đánh giá xếp loại GV theo chuẩn nghề nghiệp: Có 409GV/409 GV được đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp, trong đó có 283GV/409GV đạt từ loại khá trở lên chiếm tỷ lệ 69.19%. Không có GV xếp loại yếu kém.                                

           Ngành học phổ thông:

*Tiểu học:

- Tổng số GV/ số lớp: 729 người/523 lớp. Tỷ lệ: 1.4 %;

- Tỷ lệ GV đứng lớp đạt chuẩn Trung học sư phạm: 726người/729người. Tỷ lệ: 99,5 %;

- Tỷ lệ GV đứng lớp đạt trên chuẩn: 630 người/729 người. Tỷ lệ: 86.4 %;

             Xếp loại GV theo chuẩn nghề nghiệp :

 Tổng số:  822 giáo viên (trong đó kể cả GV đặc thù):

 Trong đó: GV Xuất sắc: 345 GV, tỷ lệ: 42 %; GV Khá: 402 GV, tỷ lệ: 48.9 %.

      GV Trung bình: 74 GV,tỷ lệ:  9 %; GV Kém: 01 GV; tỷ lệ: 0.1 %.

       Xếp loại  Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng theo chuẩn:

Tổng số Hiệu trưởng: 30 người.

Tổng số Phó hiệu trưởng: 35 người.

- Xuất sắc :  7 người.   Tỷ lệ: 23.3 %.

- Khá :          18 người. Tỷ lệ: 60 %.

- Trung bình:  5 người. Tỷ lệ: 16.7 %.

- Xuất sắc:  9 người.   Tỷ lệ: 25.7 %.

- Khá :   20 người.       Tỷ lệ:  57.1 %.

- Trung bình: 6 người.  Tỷ lệ: 17.2 %.

 

* THCS:

Xếp loại GV theo chuẩn nghề nghiệp :

Tổng số:  656 giáo viên:

Trong đó: GV Xuất sắc:126 GV, tỷ lệ:19,2 % ; GV Khá: 425 GV, tỷ lệ: 64,7 %.

GV Trung bình: 103GV, tỷ lệ:15,7%; GV Kém: 02 GV, tỷ lệ: 0.3 %.

      Xếp loại  Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng theo chuẩn:

Tổng số Hiệu trưởng: 17 người.

Tổng số Phó hiệu trưởng: 20 người.

- Xuất sắc :  4 người.   Tỷ lệ: 23.5 %.

- Khá :         8 người. Tỷ lệ: 47,0 %.

- Trung bình:  5 người. Tỷ lệ: 29,5 %.

- Xuất sắc:  3 người.   Tỷ lệ: 15 %.

- Khá :      11 người.       Tỷ lệ:  55 %.

- Trung bình: 6 người.  Tỷ lệ: 30 %.

 

Đội ngũ giáo viên  đa số nhiệt tình có trách nhiệm, một số GV đã linh hoạt sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động. Công tác đào tạo bồi dưỡng chuẩn hóa đội ngũ được tích cực triển khai ở tất cả các cơ sở giáo dục nhằm nâng cao năng lực trình độ của đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên để ngày càng đáp ứng yêu cầu mục tiêu đề ra. Trong năm học có 09 CBGV được cử đi học trung cấp lý luận chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho 56 người; đến nay hầu hết CBQL đều có trình độ trung cấp chính trị, nhiều GV tham gia các lớp nâng chuẩn trình độ đào tạo.

5. Cơ sở vật chất, thiết bị:       

             -  Đối với các trường mầm non, trong  năm học đã xây dựng mới 23 phòng học, tu sửa, cải tạo, nâng cấp được 15 phòng, xây dựng thêm các phòng chức năng, bếp ăn, tường rào ở một số  trường  như MN Lộc Hòa, Lộc Sơn, Vinh Giang, Lộc Tiến... Vì vậy, nhìn chung trường lớp của ngành học mầm non ngày càng khang trang, sạch đẹp; đã hạn chế tình trạng thuê mướn nhà để dạy. Đặc biệt, sau khi có kế hoạch phổ cập GDMN các địa phương đã có sự đầu tư để xây dựng và mua sắm trang thiết bị đồ dùng đồ chơi. 

      Tổng kinh phí  đầu tư trong năm học 18 tỷ 411 triệu đồng; trong đó ngân sách nhà nước 16 tỷ 456 triệu đồng; Các nguồn khác và phụ huynh đóng góp gần 1 tỷ 230 triệu đồng.

Cụ thể: Vốn Ngân hàng Nông nghiệp xây dựng 02 phòng cho MN Lộc Tiến 1tỷ 500 triệu đồng;

Vốn Ngân hàng Vietinbank xây dựng 02 phòng cho MN Lộc Thủy 1tỷ 500 triệu đồng;

Vốn của UBND tỉnh TT Huế xây dựng 04 phòng học, bếp ăn, cổng trường, tường rào tổng cộng 04 tỷ 500 triệu đồng.

- Đối với các trường tiểu học, tổ chức kiểm tra rà soát và bổ sung kịp thời thiết bị dạy học (TBDH) theo danh mục thiết bị dạy học tối thiểu của Bộ (Thông tư 15/2009/TT-BGD&ĐT ngày 16/7/2009).

 Vốn Kiên cố hóa trường học xây dựng cho trường TH Vinh Giang 10 phòng học trị giá 04 tỷ đồng;

- Đối với các trường THCS, tiếp tục đầu tư, bổ sung thiết bị dạy học đã bị hỏng từ lớp 6 đến lớp 9 ngay từ đầu năm học. Có 5 trường được đầu tư phòng LAB cho việc dạy ngoại ngữ,

             Vốn Kiên cố hóa trường học xây dựng cho trường THCS Vinh Hưng 01 phòng học và 01 khu nhà hiệu bộ 06 tỷ đồng.

 Trong năm 2013, ngoài các nguồn kinh phí đầu tư xây dựng mới các phòng học,  ngân sách nhà nước còn đầu tư để mua sắm trang thiết bị và sửa chữa tài sản trong ngành là 6.439.000.000đ;

 Trong đó: + THCS:      785.000.000đ;

         + TH     :  1.354.000.000đ;

         + MN    :  4.300.000.000đ.

Ngoài ra, ngân sách huyện còn hỗ trợ đầu tư xây dựng tường rào cho một số trường cận chuẩn khoảng 07 tỷ đồng.

- Xây dựng thư viện trường học:

Hiện nay,  bậc tiểu học và THCS đã có 14 thư viện đạt chuẩn: TH Số 1 An Nong, TH Số 1 Lộc Sơn, TH Số 1 Thị Trấn Phú Lộc, TH Số 2 Thị Trấn Phú Lộc, TH Vinh Giang, TH Số 1 Vinh Hưng, TH Số 2 Vinh Hưng, TH An Lương Đông, TH Số 1 Lộc Trì, THCS Lộc Bổn, THCS Thị Trấn, THCS Vinh Hưng, THCS Lộc An, THCS Lộc Trì và 01 thư viện tiên tiến: TH Số 1 Nước Ngọt.

6. Công tác quản lí, chỉ đạo:

- Từng bước thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ của chương trình hành động, cụ thể:

+ Phòng đã chỉ đạo các đơn vị  xây dựng kế hoạch trung hạn, kế hoạch tuần,  tháng, học kỳ để tổ chức thực hiện.

+ Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra nhất là hoạt động thanh tra dạy học của GV. Phòng đã kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công  tác thanh tra từ phòng đến trường và đi vào hoạt động có hiệu quả, qua công tác thanh tra trong năm học chưa có những vi pham pháp luật nhà nước và chuyên môn ở những cơ sở trường học. Cụ thể qua 1 năm học các ngành học, bậc học đã thanh tra như sau :

           - Mầm non: Thanh tra 6 trường, tỉ lệ 27,3%, được xếp loại: Tốt 2 trường, Khá 2 trường, Trung bình 1 trường; Tổng số GV được thanh tra :  98 người, và xếp loại: Tốt 15 người, Khá 40 người, Trung bình 42 người, và 1 GV chưa đạt .

           - Tiểu học : Đã thanh tra toàn diện 5 trường, tỉ lệ 17% và thanh tra hoạt động sư phạm  5 trường , tỉ lệ 20%,  kết quả : 45 GV đạt loại tốt, 56 GV đạt loại khá, 22 Đạt yêu cầu.

           - THCS : Số trường đươc thanh tra toàn diện : 2 trường, tỉ lệ 11%,  thanh tra chuyên môn, chuyên đề : 2 trường, tỉ lệ : 11 %; số GV được thanh tra : 77 người, tỉ lệ 12,2% ( trong đó: Tốt 41, khá 34, TB : 2)

+ Tăng cường thời gian công tác ở cơ sở giúp cho các cơ sở trong các hoạt động giáo dục.

+ Chỉ đạo  các trường xem xét, xây dựng kế hoạch bố trí GV theo lớp cho năm học 2013-2014.

+ Chỉ đạo tổ chức thi đề chung cắt phách chấm chung; từng bước xây dựng ngân hàng đề thi cho trường và Phòng.

+ Xây dựng kế hoạch, lộ trình xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia 2012-2015 và đến năm 2020.

+ Tham mưu huyện cử CB được bổ nhiệm trong quy hoạch tham gia các lớp BDQL và trung cấp chính trị. Tham mưu huyện bổ nhiệm lại, bổ nhiệm luân chuyển CBQL, thuyên chuyển GV và NV theo kế hoạch.

+ Thực hiện khá tốt quy chế dân chủ và chế độ công khai rõ ràng minh bạch trong đơn vị, cơ quan về quản lý thu - chi tài chính, quản lý công tác tuyển sinh đầu cấp;  đã chỉ đạo, hướng dẫn tăng cường công tác tự kiểm tra của các cơ sở giáo dục.

+ Đã tham mưu UBND huyện tổ chức thành công hội nghị Sơ kết 3 năm thực hiện đề án phổ cập GDMN 5 tuổi; tổ chức tổng kết việc thực hiên Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường;

+ Đổi mới công tác quản lý bằng các phần mềm quản lý và cổng thông tin điện tử. Chỉ đạo tăng cường việc ứng dụng CNTT để nâng cao chất lượng dạy - học. Tiếp tục đổi mới công tác thi đua khen thưởng theo hướng thiết thực, hiệu quả; tăng cường công tác truyền thông trong thi đua khen thưởng.

      III. Đánh giá chung

1.Kết quả nổi bật:

- Từ cơ quan phòng giáo dục đến các trường học đã thực hiện tốt chỉ thị 03-CT/TW của Bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM;

- Thực hiện KH Phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi đúng theo lộ trình đã đề ra; có 16/18 xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non; tỷ lệ học sinh bỏ học có giảm 0,3%; duy trì tốt kết quả PCGDĐĐT và PCTHCS;

- Mạng lưới trường lớp tiếp tục phát triển theo quy hoạch, nhất là mầm non, số điểm trường lẻ từng bước được thu hẹp; số trẻ mầm non được bán trú tăng 4,2% so năm học trước; số lượng và  chất lượng học 2 buổi / ngày tăng;

- Chất lượng giáo dục có nâng lên, khoảng cách về chất lượng giáo dục đại trà giữa các vùng miền trên địa bàn huyện ngày càng được rút ngắn ; số lương, chất lượng học sinh giioir cấp tỉnh tăng hơn năm trước;

- CSVC, tài chính, chế độ  chính sách được quan tâm, bảo đảm khá kịp thời, thực hiện đúng quy định nhà nước , phục vụ tốt dạy học và đời sống giáo viên;

Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học và quản lý giáo dục; chú trọng đầu tư hạ tầng CNTT và trang thiết bị hiện đại để phục vụ giảng dạy, quản lý.

- Số lượng, chất lượng đội ngũ ở các ngành học tăng lên, tỷ lệ đạt chuẩn và trên chuẩn cao so với mặt bằng của tỉnh;

-Phong trào "Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực" đã phát huy tốt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục nhân cách, giáo dục kỹ năng sống và các giá trị truyền thống cho học sinh.

2. Hạn chế, yếu kém:

  - Số lượng huy động của các ngành học nhìn chung chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch tỉnh giao. Tuy số học sinh tiểu học và trung học cơ sở bỏ học nữa chừng trong năm học có chiều hướng giảm dần và tỷ lệ học sinh yếu giảm so với các năm gần đây nhưng  so với các huyện vẫn còn nhiều,  nên có khó khăn trong việc củng cố và duy trì kết quả phổ cập giáo dục THCS trong những năm tới;

- Công tác phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi tuy đã được huyện , phòng giáo dục quan tâm chỉ đạo quyết liệt nhưng vẫn còn một số đơn vị xã, thị trấn thiếu chủ động, thiếu tập trung chỉ đạo; gặp nhiều khó khăn về phòng học, trang thiết bị, đồ dùng tối thiểu nên tiến độ thực hiện chậm, ảnh hưởng đến kết quả PCGDMN5 tuổi chung của huyện;

- Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia còn nhiều lúng túng và bị động do CSVC còn thiếu  và khi có sự thay đổi về các tiêu chuẩn theo thông tư mới; chưa đánh giá hết nội lực, còn trông chờ sự đầu tư của cấp trên. Tỷ lệ trường đạt chuẩn còn thấp đặc biệt là THCS.           

-  Mặc dù chất lượng văn hóa vẫn được duy trì và có nâng lên nhưng so với mặt bằng chung của cả tỉnh thì vẫn còn thấp, đặc biệt là chất lượng của học sinh THCS.       

- Xây dựng thư viện đạt chuẩn, thư viện tiên tiến còn chậm, nhiều trường ít chú trọng công tác này; có được thư viện đạt chuẩn rồi nhưng vẫn chưa phát huy hết tác dụng.

- Công tác quản lý ở Phòng, ở trường thiếu kịp thời, sâu sát  nên số liệu thống kê chưa phản ánh được thực trạng của từng cấp học dẫn đến lúng túng trong tham mưu, hoạch định các chủ trương cho sự phát triển của giáo dục;

- Hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng còn nhiều khó khăn, nhiều trung tâm hoạt động kém hiệu quả.

 3. Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

            3.1. Nguyên nhân:

           - Đời sống của nhân dân trên địa bàn còn khó khăn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn nên thiếu quan tâm đến việc học hành của con em dẫn đến tình trạng các em phải bỏ học nửa chừng để đi làm việc phụ giúp gia đình. Cũng có một số em học quá kém, không học được nữa phải bỏ học. mặc khác các đoàn thể trong nhà trường mà nòng cốt là hoạt động của Đoàn, Đội chưa có những hoạt động có tính thiết thực xuất phát từ nhu cầu thực tế, thường xuyên để hấp dẫn, thu hút các em đến trường, đến lớp;

           - Một số địa phương có địa bàn dân cư không tập trung, xa xôi hẻo lánh, dân cư thưa thớt, các cơ sở lẻ ở đây phải tổ chức dạy lớp ghép nhiều trình độ nên cũng có khó khăn trong việc nâng cao chất lượng dạy và học. Năng lực điều hành, quản lý của một số bộ phận cán bộ quản lý ở cơ sở còn yếu, không đáp ứng kịp với yêu cầu công việc;

           - Cán bộ, chuyên viên Phòng GD&ĐT tuy đã được bổ sung nhưng vẫn còn thiếu và yếu, không đủ mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng nên công tác chỉ đạo phong trào còn hạn chế;

           - Công tác tham mưu với lãnh đạo các cấp từ phòng đến trường thiếu tích cực, thiếu cụ thể, thiếu kịp thời trong thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành;

           - Vẫn có một số bộ phận đội ngũ CBQL và giáo viên yếu về năng lực, thiếu tinh thần trách nhiệm và tâm huyết nghề nghiệp, thiếu gương mẫu và tự giác trong thực hiện nhiệm vụ, còn đối phó, ngại khó, đổ lỗi cho hoàn cảnh, chậm bắt nhịp với đà đổi mới trong công tác quản lý và phương pháp dạy học;

           - Đội ngũ CBQL của các trường học vừa thiếu , vừa yếu nhất là ngành học mầm non (hiện thiếu 7 HT, 19 PHT); công tác quy hoạch cán bộ ở các trường còn khép kín, quy hoạch không đủ số lượng, chưa đảm bảo quy định các văn bản hướng dẫn của các cấp về công tác quy hoạch cán bộ;

            - Dân chủ trong trường học chưa được phát huy tích cực còn mang tính hình thức. Ở một số đơn vị, hiện tượng mất dân chủ, thiếu công khai minh bạch, gia trưởng, độc đoán đã bộc lộ ở một số CBQL;

            - Sự phối kết hợp giữa các ban ngành của huyện chưa đồng bộ, chưa tạo sức mạnh giúp giáo dục phát triển thuận lợi; vai trò tham mưu của phòng đối với lãnh đạo huyện thiếu kịp thời, thiếu tính cụ thể nên còn nhiều hạn chế;

            - Công tác xã hội hóa giáo dục trong địa phương còn hạn chế.

           3.2. Bài học kinh nghiệm:

           - Để thực hiện thành công những chủ trương lớn của ngành, điều tiên quyết là phải quán triệt sâu sắc quan điểm phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng và toàn dân, để từ đó xây dựng các chương trình tham mưu, phối hợp, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp , tạo được sự đồng thuận cao của xã hội, sự ủng hộ của các cấp các ngành, các địa phương, của phụ huynh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển sự nghiệp giáo dục;

          - Chú trọng tính hiệu lực và hiệu quả trong quản lý giáo dục. Phải bám sát thực tiễn, bám sát cơ sở, cùng giải quyết khó khăn vướng mắc phát sinh ở cơ sở kịp thời; phát hiện và nhân điển hình kịp thời để phát huy cao tính hiệu qủa;

          - Để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục phải quán triệt sâu sắc yêu cầu  nhà nước quản lý  tốt hơn nữa chất lượng giáo dục, đánh giá trung thực, chính xác kết quả học tập và rèn luyện của học sinh; chuẩn hóa các yếu tố đầu vào và yêu cầu đầu ra của các cơ sở giáo dục;

          - Giữ nghiêm nề nếp, kỷ cương; xây dựng khối đoàn kết thống nhất, thực hiện tốt quy chế dân chủ trường học;

          - Xây dựng hệ thống các giải pháp cụ thể, phù hợp, lựa chọn và xác định chủ đề, chủ điểm, vận dụng linh hoạt và sáng tạo để thực hiện tốt nhiệm vụ năm học  đồng thời lồng ghép nội dung các cuộc vận động một cách hợp lý, khoa học để triển khai thực hiện đạt hiệu quả.                                                              

                                                                

 

Tải file

Số lượt xem : 1209

Chưa có bình luận nào cho bài viết này



Các tin khác