Người thầy tốt nhất là người thầy khơi gợi chứ không giáo điều, và truyền cho học trò mình mong muốn tự dạy bản thân "

Ngày 01 tháng 11 năm 2014

ĐĂNG NHẬP TÀI KHOẢN

 » Tin tức » Văn hóa - Xã hội

Văn hóa - Xã hội

Cập nhật lúc : 10:56 28/10/2013  

Chuyên đề Công tác Giáo Viên Chủ Nhiệm

Nếu như trong một trường học, người Hiệu trưởng được coi là có vị trí quan trọng trong việc quy tụ mối đoàn kết thống nhất để phát huy sức mạnh của đội ngũ CBGV nhằm thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ giáo dục của nhà trường thì người GVCN lớp có vai trò hết sức quan trọng trong một lớp học, là người quyết định mọi sự phát triển và tiến bộ của lớp, là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất về mọi hoạt động của học sinh trong lớp chủ nhiệm. Đội ngũ GVCN là lực lượng hỗ trợ đắc lực cho Hiệu trưởng trong việc chỉ đạo tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường, là cánh tay nối dài của Hiệu trưởng, là cầu nối giữa Hiệu trưởng nhà trường với học sinh, cha mẹ các em và đoàn thể mà các em sinh hoạt. Kết quả học tập của cả trường, thương hiệu của nhà trường được xây dựng và giữ gìn không phải do một hai cá nhân CBGV hay do một nhóm học sinh, một hai lớp học, mà là do sự nỗ lực của từng thành viên và toàn thể CBGV- HS nhà trường qua các thế hệ.


CHUYÊN ĐỀ:

                              CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP

-----------o0o----------

 

PHẦN MỞ ĐẦU

 

    Nếu như trong một trường học, người Hiệu trưởng được coi là có vị trí quan trọng trong việc quy tụ mối đoàn kết thống nhất để phát huy sức mạnh của đội ngũ CBGV nhằm thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ giáo dục của nhà trường thì người GVCN lớp có vai trò hết sức quan trọng trong một lớp học, là người quyết định mọi sự phát triển và tiến bộ của lớp, là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất về mọi hoạt động của học sinh trong lớp chủ nhiệm.

    Đội ngũ GVCN là lực lượng hỗ trợ đắc lực cho Hiệu trưởng trong việc chỉ đạo tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường, là cánh tay nối dài của Hiệu trưởng, là cầu nối giữa Hiệu trưởng nhà trường với học sinh, cha mẹ các em và đoàn thể mà các em sinh hoạt.

   Kết quả học tập của cả trường, thương hiệu của nhà trường được xây dựng và giữ gìn không phải do một hai cá nhân CBGV hay do một nhóm học sinh, một hai lớp học, mà là do sự nỗ lực của từng thành viên và toàn thể CBGV- HS nhà trường qua các thế hệ.

    Để tạo lập nề nếp, thương hiệu nhà trường và luôn luôn “giữ được lửa”, nhiệm vụ và vai trò rất lớn thuộc về đội ngũ GVCN lớp-những người được coi là “linh hồn” của các lớp học.

    Vậy làm thế nào để làm tốt Công tác chủ nhiệm lớp? Hy vọng chuyên đề này sẽ phần nào giúp các bạn trả lời câu hỏi đó.

 

PHẦN NỘI DUNG

 

A. Những yếu tố cần có ở một người giáo viên chủ nhiệm lớp

 

 

 
   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

      Tại sao hầu hết trẻ em khi sinh ra đều yêu quý, thậm chí “thần tượng” bố mẹ (hoặc người nuôi dưỡng mình) nhiều nhất? Bởi vì: Đó là những người đầu tiên mà đứa trẻ biết và gắn bó đầu tiên trong cuộc đời của trẻ (cho dù người đó có nhiều khiếm khuyết, thậm chí là người rất xấu trong xã hội, thì trẻ vẫn yêu bởi trẻ chưa có nhận thức về xấu tốt)

     Đến tuổi đi học, thầy cô mà học sinh gắn bó trước nhất và nhiều nhất là GVCN- người trực tiếp chỉ đạo lớp và là người có nhiều thời gian tiếp xúc với học sinh của lớp trong mọi hoạt động giáo dục ở nhà trường. Vậy liệu GVCN có là người khiến học sinh yêu quý và ngưỡng mộ nhất?

      Câu trả lời là: có thể hoặc không! Bởi vì, khi đến tuổi đi học, ngay từ khi học mầm non, cũng là lúc trẻ đã có nhận thức khá rõ về yêu ghét, tốt xấu.

      Vậy nên, giáo viên nói chung và đặc biệt là GVCN sẽ được học sinh yêu quý, kính trọng, ngưỡng mộ, thậm chí là “thần tượng” nếu hội tụ đủ 6 yếu tố trên.

1. Tại sao người GVCN cần có phẩm chất, tình cảm của một người mẹ?

- “Mẹ thì hiền”, “mẹ cũng có thể nghiêm khắc nhưng bao giờ cũng yêu quý con, hiểu con và chia sẻ với con những điều con vướng mắc”, “mẹ luôn là chỗ dựa tin cậy mỗi khi con vấp ngã hoặc sai lầm”…

- Thời gian học sinh ở trường có thể bằng, thậm chí nhiều hơn ở nhà ( nhất là với học sinh nội trú, bán  trú trường THCS Nguyễn Đức Cảnh), con người nói chung và học sinh cũng vậy, luôn khao khát được yêu thương, được vỗ về, an ủi. Vậy nên, nếu người GVCN nào dành cho học sinh thái độ, tình cảm như của mẹ dành cho con, hiệu quả công tác chủ nhiệm sẽ lớn hơn rất nhiều so với GVCN lạnh lùng, thờ ơ không gần gũi yêu thương học sinh.

2. Tại sao GVCN cần phải “là người bạn” của học sinh?

- Nhu cầu chia sẻ tâm tư, tình cảm, trao đổi phương pháp học tập…của học trò là rất lớn. Có những điều các em không nói với mẹ, không nói với thầy cô mà chỉ tâm sự với bạn.

- Bởi vậy, nếu GVCN tạo được niềm tin tưởng, sự thân thiện gần gũi với học sinh, các em sẵn sàng tâm sự, kể cả những điều sâu kín nhất của lứa tuổi. Khi đó, GVCN có cơ hội hiểu các em hơn, tư vấn và gỡ rối cho các em những băn khoăn của tuổi mới lớn, những mâu thuẫn của quan hệ học trò, thậm chí cả những khúc mắc trong gia đình…Khi “là người bạn” của các em, không hề làm giảm vị thế của GVCN mà trái lại, uy tín của người GVCN tăng lên đồng thời tạo lập một môi trường, một không khí gần gũi, thân thiện đoàn kết trong lớp.

3. Tại sao GVCN cần có phải có năng lực của  một “luật sư” và “thẩm phán”?

- Một lớp học từ 40-50 học sinh với sự đa dạng về tính cách, với sự phức tạp của tâm lý lứa tuổi không thể tránh khỏi những mâu thuẫn xung đột trong tập thể lớp và các phát sinh các tình huống giáo dục

- Vì vậy, người GVCN phải là một nhà tâm lý, biết kìm chế căng thẳng và quản lý cảm xúc bản thân, hiểu quy luật phát triển tâm lý và các điều kiện phát triển tâm lí ở lứa tuổi học sinh để từ đó xây dựng Kế hoạch công tác chủ nhiệm cho phù hợp và hiệu quả.

- GVCN phải là một “luật sư”, một nhà quản lý, một vị“ thẩm phán” giỏi để bào chữa và giải quyết một cách thuyết phục, thỏa đáng những mâu thuẫn xung đột trong tập thể lớp.

4. Yếu tố “nhà khoa học” giúp gì trong công tác của người GVCN?

- Một GVCN thành công trong công tác chủ nhiệm là: lớp chủ nhiệm có nề nếp tốt, có chất lượng học tập tốt, nhiều học sinh đạt được thành tích cao trong học tập.

- Muốn vậy, ngoài những phẩm chất trên, người GVCN cũng cần phải là một giáo viên dạy giỏi và luôn luôn biết khích lệ, biết thắp sáng “ngọn nến” say mê trong lòng người học.

5. Là “người mẹ giàu lòng yêu thương”; là “người bạn chân thành, vị tha”; là “luật sư am hiểu luật”; là “vị thẩm phán công bằng nghiêm minh”; là “nhà khoa học với vốn tri thức phong phú”…người GVCN có đủ các yếu tố đó, chính là “Tấm gương sáng” cho học sinh.

- Trong thực tiễn giáo dục nói chung và trong công tác chủ nhiệm nói riêng không có phương pháp giáo dục nào hiệu quả và  thuyết phục bằng… bản thân nhà giáo dục!

- 6 phẩm chất trên đồng thời là 2 yếu tố cơ bản của người GVCN, đó là: cái Tâm và cái Tài. Khi hội tụ đủ các phẩm chất và yếu tố đó thể hiện thông qua các nội dung cơ bản của công tác chủ nhiệm, bản thân người GVCN lớp tự tỏa sáng và học sinh sẽ noi theo.

B. Các nội dung cơ bản của Công tác chủ nhiệm lớp.

I. Xây dựng Kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp.

1. Khái niệm

a. Kế hoạch chủ nhiệm là gì?

* Kế hoạch chủ nhiệm là chương trình hành động trong tương lai của lớp chủ nhiệm, nhằm xác định một cách chính xác lớp học của chúng ta muốn đi đến đâu và cần phải làm gì, làm như thế nào để đạt được điều đó?

* Kế hoạch chủ nhiệm được xây dựng cho 3 năm học gọi là kế hoạch chiến lược, cho 1 năm học gọi là kế hoạch năm học.Trong kế hoạch năm học có :

- Kế hoạch tháng, Kế hoạch tuần.

- Kế hoạch mục tiêu hoặc Kế hoạch chuyên đề của lớp chủ nhiệm.

b. Lập kế hoạch chủ nhiệm là gì?

* Lập kế hoạch chủ nhiệm là lựa chọn những phương án hành động trong tương lai cho toàn bộ hoặc từng bộ phận trong bộ máy quản lí lớp để đạt được mục tiêu mong đợi trên cơ sở khả năng hiện tại.

* Kế hoạch chủ nhiệm lớp ở trường THCS, THPT thường được lập cho khoảng thời gian từ 1 đến 3 hoặc 4 năm học.

2. Cách xây dựng KHCN:

-   Bước 1: Phân tích môi trường lớp học .

-   Bước 2: Xây dựng định hướng chiến lược phát triển lớp học.

-   Bước 3: Xác định mục tiêu cần đạt của lớp học.

-   Bước 4: Xác định các giải pháp cần tiến hành để đạt mục tiêu.

-   Bước 5: Xác định các đề xuất tổ chức thực hiện kế hoạch.

- Bước 6: Hoàn thiện văn bản Kế hoạch chủ nhiệm lớp và từng bước triển khai thực hiện.       

3. Cấu trúc bản Kế hoạch chủ nhiệm:

  Bao gồm 9 nội dung cơ bản sau:

1. Đặc điểm tình hình/môi trường lớp học

      Đây là việc đầu tiên người GVCN phải làm và thường xuyên làm trong suốt quá trình chủ nhiệm để xây dựng và bổ sung, điều chỉnh kế hoạch cho kịp thời, phù hợp.

      Việc thu thập các thông tin về đặc điểm tình hình/môi trường lớp học sẽ giúp GVCN tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, những thuận lợi và khó khăn của lớp mình chủ nhiệm.

* Tìm hiểu đặc điểm tình lớp chủ nhiệm bao gồm các vấn đề cụ thể sau:

a. Điều tra thông tin cơ bản của học sinh (như mẫu Sơ lược lý lịch học sinh).

b. Thống kê kết quả xếp loại HK, HL, thành tích của HS năm học trước và nguồn vào năm nay.

c. Tìm hiểu cụ thể chính xác và chi tiết ( bằng trực tiếp và qua nhiều kênh thông tin) hoàn cảnh, nguyên nhân, tính cách của những “cá biệt” (gồm: hs học giỏi xuất sắc, hs ý thức chưa tốt hay vi phạm nội quy, học sinh có hoàn cảnh về kinh tế hoặc tình cảm đặc biệt…).

d. Từ đó đánh giá điểm mạnh-yếu, thuận lợi-khó khăn của lớp chủ nhiệm.

2. Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu và các danh hiệu phấn đấu

     Sau khi tìm hiểu và đánh giá chính xác được đặc điểm tình hình lớp học, tiến hành xây dựng Phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu và các danh hiệu phấn đấu khả thi và phù hợp với tình hình lớp.

VD: Với một lớp học có các đặc điểm: Nhiều học sinh ở xa, trong đó có 10/45 em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về kinh tế; Năm trước 100% đạt HK Tốt, HL Giỏi, 80% đạt danh hiệu HSG huyện các môn tự nhiên; Thi đầu vào điểm môn Toán từ 7,75 trở lên…Có thể xây dựng  Phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu và các danh hiệu phấn đấu như sau:

- Phương hướng nhiệm vụ chung:

                + Giữ vững và phát huy những thành tích đã đạt năm trước.

                +Xây dựng lớp thành một tập thể đoàn kết gắn bó và mạnh về mọi mặt.

 - Mục tiểu, chỉ tiêu phấn đấu:

                + Là lớp dẫn đầu khối về mọi mặt, tiến tới dẫn đầu toàn trường, TTXS dẫn đầu.

                + Không có bạn phải về trường cũ học vì điều kiện kinh tế khó khăn.

                + 100% hs xếp HK Tốt, HL Giỏi.

                + 90% được chọn vào các đội DT HSG các môn và 95% trong số đó được thi thi HSG huyện. 90% số dự thi đạt HSG huyện trong đó 30% giải Nhất…

                + Không có hs vi phạm nội quy của lớp và trường, nội quy BTNT.

3. Các biện pháp chính

a. Làm tốt công tác ổn định tổ chức lớp, thông qua:

- Xây dựng đội ngũ Cán bộ lớp (gồm: Lớp trưởng, các lớp phó, tổ trưởng, các cán bộ chuyên trách) là những học sinh học tốt, gương mẫu, năng động, nhiệt tình, có năng lực và uy tín. Hình thành ý thức tự quản, tự giác trong tập thể học sinh lớp.

- Tư vấn cho phụ huynh cử Ban đại diện CMHS là những phụ huynh có thời gian, nhiệt tình  trách nhiệm và kinh nghiệm trong hoạt động CMHS. Phối kết hợp chặt chẽ với BĐD CMHS trong mọi hoạt động.

b. Có những quy định và xây dựng tiêu chí thi đua trong lớp ngắn gọn, khoa học.

c. Triển khai (có giám sát, kiểm soát thường xuyên) việc học tập và thực hiện nội quy của nhà trường gồm: nội quy hs, nội quy BTNT và những quy định của lớp.

d. Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu để có những giải pháp hữu hiệu trong xử lý các tình huống.

đ. Xây dựng mối liên kết chặt chẽ với các lực lượng giáo dục khác: Giáo viên bộ môn của lớp, cán bộ đoàn đội hoặc xin tư vấn của Ban giám hiệu.

e. Chính xác trong thi đua; kịp thời trong tuyên dương khen thưởng hoặc phê bình khiển trách.

g. Xây dựng các chuyên đề chuyên sâu để rút kinh nghiệm.

h. Xây dựng Kế hoạch công tác tháng.

4. Những chuyên đề đi sâu để rút kinh nghiệm.   

a. Với những lớp có nền năm học trước tốt, nên tập trung vào các chuyên đề:

- Làm thế nào để đạt kết quả cao trong học tập?

- Phấn đấu để vào 1 trong bất kỳ ĐT nào hay chỉ học mỗi môn học mình yêu thích nhất?

- Làm gì để xây dựng một tập thể tự quản tốt?

- Ý nghĩa của việc tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp?

… …

b. Với những lớp còn nhiều học sinh ý thức chưa tốt, nên tập trung vào 1 số chuyên đề:

- Phương pháp giáo dục học sinh chậm tiến bộ.

- Thực trạng thứ hạng thi đua của lớp - nguyên nhân và biện pháp khắc phục?

c. Với những lớp có nhiều học sinh khó khăn học giỏi, nên:

- Hội thảo về vấn đề “giúp bạn vượt khó”.

- Làm theo gương sáng “vượt khó học tập”.

d. Các chuyên đề về hoạt động ngoại khóa để phát huy năng khiếu như: Làm báo, viết bài cho tập san, cắm trại, hội thảo…

Chú ý: Những chuyên đề, hội thảo này giáo viên có thể xây dựng khung và cùng với học sinh cả lớp thảo luận trong 1 số giờ sinh hoạt (sinh hoạt lớp theo chuyên đề) để hoàn thiện và thực hiên.

5. Điều chỉnh kế hoạch

Kế hoạch chủ nhiệm được xây dựng trong 1 năm hoặc 3 năm không phải là Kế hoạch bất biến, tùy theo sự thay đổi biến động của lớp, Kế hoạch chung của nhà trường và các đoàn thể mà điều chỉnh cho phù hợp và sát thực.   

6. Kế hoạch từng tháng .

Mẫu Kế hoạch tháng:

 

Nội dung

Phân công

Biện pháp

Thời gian

Kết quả

1.

 

 

 

 

2.

 

 

 

 

 

Chú ý:

     Khi xây dựng Kế hoạch công tác tháng, GVCN cần tích hợp phần Nội dung của nhà trường của các đoàn thể triển khai với nội dung hoạt động của lớp chủ nhiệm. Thực tế trong sổ chủ nhiệm của hầu hết GVCN hiện nay, không chỉ Kế hoạch năm chưa có mà phần Kế hoạch tháng cũng hầu như không có, chỉ có “công việc tuần” ghi chép đơn điệu lại “tên các việc” mà nhà trường triển khai. Kế hoạch chủ nhiệm trong năm học và Kế hoạch tháng cần hiển thị trong Sổ chủ nhiệm phần “ghi chép”, phần Công tác chủ nhiệm chỉ Kế hoạch tuần.

7. Kế hoạch Sơ kết học kì 

8. Kế hoạch Tổng kết năm học. 

9. Kế hoạch hoạt động hè.  

     Ba loại Kế hoạch trên có thể thống nhất theo mẫu chung của nhà trường trong các bản Định hướng Sơ kết học học kỳ, định hướng Tổng kết năm học với học sinh lớp và trong cuộc họp CMHS lớp cuối kỳ, cuối năm.

II. Phương pháp và kinh nghiệm tổ chức giờ sinh hoạt lớp.

1.Tác dụng giáo dục của giờ sinh hoạt lớp

- Thời gian: Thường tính 1 tiết/tuần và tổ chức vào cuối tuần.

- Đây là dạng hoạt động giáo dục tập thể, là một hình thức tổ chức tự quản cho HS và là một trong những biện pháp cơ bản góp phần xây dựng tập thể học sinh đoàn kết.

- Đây cũng là dịp để HS làm quen với nhiều loại hình hoạt động khác nhau, giúp các em phát triển các kĩ năng cơ bản và cần thiết cho HS như: Phát triển về trí tuệ, tình cảm, đạo đức, sức khỏe...

2. Thực trạng phổ biến của việc tổ chức các giờ sinh hoạt lớp hiện nay và kết quả

a. Thực trạng: Có 2 hình thức phổ biến

a.1. Lớp trưởng lên nhận xét các mặt hoạt động và kết quả thi đua của lớp trong tuần. Sau đó GVCN lớp “điều tra” những học sinh vi phạm nội quy làm mất điểm thi đua của lớp, phê bình, khiển trách…Sau đó GVCN thông báo vội vàng những nội dung trường triển khai trong tuần tới và…hết giờ!

a.2. GVCN vào lớp và lần lượt “tra tội” từng học sinh vi phạm nội quy để xả bực tức. Sau đó triển khai công việc tuần sau.

*Ghi chú:

    Vì nội dung và hình thức những giờ sinh hoạt rất đơn điệu như trên nên phần ghi chép nội dung SH lớp trong sổ chủ nhiệm của GVCN gần như không có gì ngoài mấy dòng nhận xét và phổ biến công việc tuần sau (bởi vậy nội dung SH lớp thường lẫn lộn và lặp lại nội dung “công tác tuần”)

b. Kết quả:

- Hầu như HS không được cùng nhau tổ chức, tham gia sinh hoạt lớp (nếu có, chỉ là “nhân chứng” chỉ ra hoặc mô tả lại những  tình huống bạn bè phạm lỗi).

- ND trong giờ sinh hoạt lớp khô cứng, lặp đi lặp lại, không thật sự gắn với nhu cầu HS.

- Hình tổ chức giờ SH đơn điệu, nhàm chán, không hứng thú, nặng nề với HS, nhất là các học sinh ngoan.

- GV nghiêm khắc, không gần gũi, thân thiện, nặng về phê bình khiển trách, tức giận. Chưa chú trọng đến biểu dương khích lệ và làm mới không khí giờ sinh hoạt lớp.

- Vì thế học sinh thường đón đợi một giờ sinh hoạt với tâm lý đợi… “bão”!.

3. Các yêu cầu cơ bản đối với giờ sinh hoạt lớp

- Đa dạng hoá về nội dung và hình thức tổ chức tiết sinh hoạt lớp

- Thu hút tối đa sự tham gia của mọi HS dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ, cố vấn của GVCN nhằm tăng cường vai trò tự quản của HS.

- Tăng cường những nội dung SH có liên quan đến các công việc chung của lớp, phù hợp với nhu cầu, sở thích của HS.

- Đảm bảo giao lưu dưới hình thức đối thoại, đàm thoại, tôn trọng và bình đẳng.

4. Các hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp:

4.1. Sơ kết, đánh giá thi đua tháng trước cùng thảo luận Xây dựng kế hoạchtháng sau

VD: nêu các nội dung, thảo luận phương pháp, bàn bạc phân công nhân sự để thực hiện các hoạt động trong tháng hoạt động mạnh chào mừng 20/10 và 20/11.

4.2. Hình thức hỗn hợp: tổng kết thi đua và sinh hoạt theo chủ đề

-  Đánh giá tình hình chung của lớp trong tuần;

- Thông báo những công việc chính trong tuần tới

- Sinh hoạt theo chủ đề (vd: Chủ đề tháng 12: Học tập tấm gương Anh bộ đội cụ Hồ: Phẩm chất của anh bộ đội cụ Hồ? Gắn với việc học tập trong thời điểm hiện tại? Những hiện tượng tồn tại của tuần qua đã thể hiện việc học tập…chưa? Làm thế nào để hạn chế tồn tại?)

4.3. Thảo luận chuyên đề: ( xem Kế hoạch chuyên đề)

 Khi tiến hành thảo luận chuyên đề cần lưu ý:

- Vấn đề thảo luận phải phù hợp với hứng thú, nhu cầu và trình độ nhận thức chung của HS, có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau.

- Vấn đề đưa ra thảo luận đòi hỏi sử dụng nhiều kiến thức và kinh nghiệm để đánh giá, kết luận, hay sáng tạo ý tưởng mới.

- Môi trường thảo luận phải thuận lợi, an toàn, thoải mái …

- Cần tôn trọng ý kiến của các thành viên trong thảo luận,

4.4. Giao lưu- đối thoại với người trong cuộc:

- Mời những điển hình tiên tiến về lĩnh vực nào đó cùng dự sinh hoạt lớp để học sinh có cơ hội được giao lưu (VD: 1 học cũ trước là cá biệt hư đã tiến bộ và thành đạt; 1 học sinh có hoàn cảnh khó khăn luôn đạt thành tích cao trong học tập, 1 giáo viên đặc biệt của trường mà các em ngưỡng mộ…).

- Giao lưu nhằm tạo ra các điều kiện để HS được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thông tin với những nhân vật điển hình, với người thật, việc thật trong lĩnh vực HĐ nào đó.

Lưu ý:

     - Những vấn đề trao đổi, giao lưu phải thiết thực, liên quan đến lợi ích và hứng thú, đáp ứng nhu cầu của HS.

     - Người chủ trì cần có buổi làm việc trước với chuyên gia về mục tiêu, nội dung buổi nói chuyện, đặc điểm của đối tượng giao lưu như tuổi, lớp, những vấn đề được HS quan tâm nhất hoặc đang vướng mắc; quy mô tổ chức, phương thức tiến hành.

4.5.Tổ chức các hội thi trong phạm vi hẹp (thi năng khiếu nhóm tổ, thi hiểu biết khoa học...)

-  Hội thi nhằm tạo ra sân chơi hấp dẫn, mang tính thi đua, cạnh tranh giữa HS hoặc các nhóm HS để các em có cơ hội thể hiện tài năng, vẻ đẹp, cùng nhau chia sẻ, tiếp nhận những kiến thức có liên quan đến chủ đề đã được lựa chọn.

-  Đây là hình thức tổ chức họat động tổng hợp nhiều loại hình, đòi hỏi thời gian chuẩn bị công phu...

Lưu ý:

- Công tác chuẩn bị phải tiến hành trước khi diễn ra cuộc thi từ 10 - 15 ngày

- Trước khi tiến hành hội thi 1 ngày, cần phải tiến hành tốt những công việc sau:

    +Tạo không khí sôi nổi, phấn khởi cho hội thi thông qua chỉnh trang lớp học và nơi diễn ra hội thi, âm nhạc và các phương tiện âm thanh…

    +Họp BGK để phổ biến biểu điểm, quy cách chấm và tính điểm, xác định các yêu cầu đối với BGK và quy trình hoạt động của BGK hội thi.

5. Khen chê trong giờ sinh hoạt lớp

a. Thực trạng:

Thực tế hiện nay trong các buổi SH lớp, các thầy cô thường chê HS nhiều hơn là khen ngợi (60 - 70% là “chê” HS).

b. Hiệu quả và phương pháp khen- chê

 Biết khen - chê đúng mực sẽ khiến học trò hứng thú trong học tập….

Về nguyên tắc, khen phải nhiều hơn chê để tạo tâm lý tích cực vì ai cũng thích khen.

* Cách khen:

- Khen ngợi phải cụ thể, gọi tên các phẩm chất

- Khen ngợi phải chân thật, gây được cảm xúc tích cực nơi người khen

- Cần khen ngay hành vi tích cực mới khi nó vừa xuất hiện nhất là với những em hay mắc khuyết điểm, những em học yếu, nhút nhát….

* Cách phê bình

- Khi phê bình HS cũng cần lưu ý là phê bình hành vi cụ thể của cá nhân cụ thể chứ không khái quát hoá thành phẩm chất nhân cách.

- Khi phê bình không được chì chiết, nhắc đi nhắc lại những khuyết điểm đã xảy ra từ lâu, đặc biệt tránh định kiến thành kiến, quy chụp.

6. Tham khảo bản Kế hoạch sinh hoạt lớp

1. Mục tiêu

2. Nội dung

3. Hình thức

4. Công tác chuẩn bị (bao gồm cả phương tiện)

5. Thời điểm tiến hành

6. Địa điểm tiến hành

7. Tiến trình sinh hoạt (lưu ý thời gian dành cho từng hoạt động)

III. Tìm hiểu đặc điểm tâm lý học sinh

1. Cần hiểu

- Sự phát triển tâm lí mang tính quy luật. Ở lứa tuổi học sinh THCS và THPT ngự trị quy luật về tính mất cân đối tạm thời, tính mâu thuẫn (THCS) và quy luật về tính không đồng đều của sự phát triển (THCS và THPT) thể hiện ở tất cả các lĩnh vực của nhân cách: trẻ phát triển với tốc độ khác nhau, nhưng đó lại là tính độc đáo.

- Các điều kiện phát triển tâm lí ở lứa tuổi học sinh trung học: hoạt động học tập, các hoạt động chung khác, hoạt động giao tiếp với những người xung quanh (với người lớn và các bạn cùng tuổi).  

2.Tìm hiểu đặc điểm tâm lý từng học sinh trong lớp qua phiếu điều tra

Mẫu phiếu tìm hiểu đặc điểm tâm lí-xã hội của học sinh (tham khảo)

1. Họ và tên học sinh:

2. Ngày, tháng năm sinh. Cầm tinh con gì?

3. Địa chỉ sinh sống: Số điện thoại, Email của bố mẹ hoặc của những người thân khác.

4. Hứng thú riêng của học sinh:

   a. Theo ý kiến của bản thân học sinh:

   b.Theo đánh giá của cha mẹ, thầy cô:

5. Họ và tên cha mẹ, nơi công tác, chức vụ, số điện thoại ở nơi làm việc, địa chỉ email. Trình độ học vấn của cha mẹ.

6. Hứng thú của bố và của mẹ:

      a. Theo ý kiến của học sinh:

      b. Theo ý kiến của cha mẹ học sinh:

7. Tình trạng điều kiện vật chất của gia đình:

8. Điều kiện về nhà ở của gia đình:

9. Thành phần/cơ cấu gia đình:

10. Số lượng người dưới 18 tuổi trong gia đình và năm sinh cụ thể của từng người:

11. Tình trạng sức khỏe của học sinh:

12. Những đặc điểm cá nhân của học sinh muốn được giáo viên đặc biệt chú ý:

13. Những đặc điểm tính cách nổi bật của học sinh:

14. Những năng lực đặc biệt mà học sinh có:

15. Thiên hướng mà học sinh bộc lộ đối với các môn học (thích học và học tốt môn nào?).

16. Học sinh gặp khó khăn ở những môn học nào.

17. Học sinh đang tham gia sinh hoạt ở các nhóm nào: trong trường; ngoài trường.

18. Cha mẹ có thể giúp được gì cho lớp, cho trường.

19. Điều học sinh tâm đắc nhất trong môi  trường tập thể lớp hiện nay?

20. Điều học sinh băn khoăn hoặc không thoải nhất về môi trường học tập hiện nay?

3. Lưu ý khi tìm hiểu đặc điểm tâm lý học sinh

- Hiện tượng tâm lí không thể được đo đạc một cách trực tiếp nhưng có thể đánh giá gián tiếp thông qua các sản phẩm hoạt động và các mối quan hệ giao tiếp.

-  Đối với lứa tuổi học sinh trung học, đó là hoạt động học tập, các hoạt động chung khác của HS, giao tiếp của HS với người lớn (trong gia đình, ở nhà trường, ngoài xã hội) và với bạn cùng lứa.

-  Điều này thể hiện nguyên tắc gián tiếp, khách quan, xã hội- lịch sử trong nghiên cứu tâm lý học. Các nguyên tắc này cần được quán triệt trong tổ chức tìm hiểu tâm lí HS để đảm bảo thu được tư liệu một cách tin cậy nhất. Ngoài ra, từ phía GVCN cần tránh sự định kiến, nóng vội đối với HS.

4. Tác dụng của việc tìm hiểu đặc điểm tâm lý học sinh qua phiếu điều tra.

- Khi viết, học dễ bộc lộ và tự bộc lộ chân thực hơn là nói.

- Hiểu hơn về lứa tuổi học sinh thuộc lớp chủ nhiệm.

- Hiểu được cá tính, những hạn chế và năng lực đặc biệt của từng học sinh, để trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch CN và có các biện pháp hiệu quả trong công tác chủ nhiệm với lớp, nhóm và cá nhân.

- Tránh được sự ngộ nhận, sai lầm, khiên cưỡng  trong quá trình giáo dục.

- Thu hút và thuyết phục được học sinh hơn khi nắm được những thông tin cụ thể về hs.

IV. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

1. Quan niệm về kỹ năng sống

Có nhiều quan niệm về KNS và mỗi quan niệm được diễn đạt khác nhau.

* Quan niệm của WHO:

KNS là những kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng giao tiếp được vận dụng được vận dụng để giải quyết những tình huống trong cuộc sống hàng ngày.

*. Quan niệm của UNESCO:

 KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày.

Theo UNESCO: Kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục:

- Học để biết (kĩ năng nhận thức)

- Học để tự khẳng định mình (các kĩ năng cá nhân)

- Học để cùng chung sống (các kĩ năng xã hội)

- Học để làm (các kĩ năng thực tiễn)

* Tóm lại:

- KNS bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Bản chất của KNS là KN làm chủ bản thân và KN XH cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với XH, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống.

* Ví dụ về các kỹ năng sống

 

- KN giao tiếp

- KN ứng phó với căng thẳng

- KN tự nhận thức

- KN tìm kiếm sự giúp đỡ

- KN xác định giá trị

- KN kiên định

- KN tự tin

- KN đặt mục tiêu

- KN kiềm chế cảm xúc

- KN tìm kiếm và xử lí thông tin

- KN thương lượng

- KN tư duy phê phán

- KN từ chối

- KN tư duy sáng tạo

- KN ra quyết định và giải quyết vấn đề

 

* Một KNS có thể có những tên gọi khác nhau, ví dụ:

- KN hợp tác còn gọi là KN làm việc nhóm;..

- KN kiểm soát cảm xúc còn gọi là KN xử lí cảm xúc, KN làm chủ cảm xúc, KN quản lí cảm xúc…

- KN thương lượng còn gọi là KN đàm phán, KN thương thuyết,…

- KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội. KNS mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân. KNS mang tính XH vì KNS phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển lịch sử xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc.

2. Vì sao cần giáo dục kỹ năng sống cho người học

- Trong xã hội hiện đại dễ nảy sinh những thách thức, nguy cơ rủi ro, muốn thành công và hạnh phúc con người cần được trang bị KNS.

- KNS là năng lực/ khả năng tâm lí - xã hội của con người có thể ứng phó với những thách thức trong cuộc sống, giải quyết các tình huống và giao tiếp có hiệu quả.

3. Những KNS cần giáo dục cho HS THCS

a. Những KNS cốt lõi :

* Nhóm các KN nhận biết và sống với chính mình: tự nhận thức, tự xác định giá trị, kiểm soát cảm xúc, ứng phó với căng thẳng,…

* Nhóm các KN nhận biết và sống với người khác: giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác,…

* Nhóm các KN ra quyết định một cách có hiệu quả: tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề…

b. Những KNS để ứng phó với những vấn đề của lứa tuổi học sinh THCS, THPT:

* Phòng tránh lạm dụng Game

* Phòng tránh rủi ro trong quan hệ giới tính

* Phòng tránh sử dụng chất gây nghiện

* Phòng tránh bạo lực học đường

4. Mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp và nguyên tắc giáo dục KNS cho hoc sinh

a. Mục tiêu của giáo dục KNS

- Tăng cường năng lực tâm lí - xã hội và xây dựng lối sống lành mạnh, tích cực cho HS.

b. Nhiệm vụ của GDKNS:

- Hình thành, củng cố thái độ, hành vi, cách ứng xử lành mạnh, mang tính xây dựng.

- Thay đổi suy nghĩ, niềm tin, thói quen, hành vi tiêu cực, có nguy cơ rủi ro… thành những hành vi tích cực, an toàn.

c. Phương pháp: GVCN cần GD KNS cho HS qua:

- Tổ chức các chủ đề giáo dục KNS chuyên biệt thông qua HĐNGLL

- Lồng ghép, tích hợp qua các chủ đề, các dạng HĐNGLL khác

- Qua tiếp cận 4 trụ cột  

- Qua xử lý các tình huống trong thực tiễn cuộc sống sinh hoạt, học tập

- Qua tư vấn, tham vấn trực tiếp đối với cá nhân hoặc nhóm học sinh.

d. Các nguyên tắc giáo dục KNS  nhằm thay đổi hành vi tiêu cực, rủi ro cho HS:

- Tạo cơ hội cho HS học qua trải nghiệm

- Cung cấp kiến thức vừa đủ, tránh mang tính hàn lâm.

- Tập trung vào những thông điệp tích cực, chú ý hạn chế tối đa việc sử dụng những thông điệp mang tính đe dọa để động viên sự thay đổi hành vi.

- Triển khai theo nhóm nhỏ, cần đủ thời gian để trải nghiệm và củng cố hành vi

-  Khuyến khích tư duy phê phán trong các tình huống lựa chọn.

- Sử dụng tác động của người có uy tín và phương pháp đồng đẳng.

- Phối hợp với gia đình, cộng đồng để tạo ra môi trường GD khuyến khích sự thay đổi hành vi tiêu cực, rủi ro.

 - Phòng ngừa sự lặp lại thói quen cũ.

V. Kỹ năng phó với căng thẳng và quản lý cảm xúc của bản thân

1. Khái niệm

- Tình huống gây căng thẳng là những sự việc, vấn đề xảy ra trong cuộc sống tác động đến con người và gây ra cảm xúc mạnh, phần lớn là tiêu cực.

Hoặc: Căng thẳng = Áp lực cuộc sống (xã hội, công việc, gia đình) / Nội lực bản thân. Căng thẳng thường nảy sinh khi cá nhân nhận thức rằng mình không thể đương đầu được yêu cầu, thách thức.

2. Biểu hiện cảm xúc và cơ thể  khi căng thẳng:

a. Những dấu hiệu sinh lí của cơ thể:

- Đau đầu, tức ngực, khó thở, thở nhanh, chóng mặt, hay mệt mỏi, đau người, mất ngủ, ăn không ngon, hồi hộp, viêm loét dạ dày…

-  Phủ nhận cảm xúc, muốn khóc, muốn chạy trốn hoặc trở lên hung hăng hơn...

b. Cảm xúc:

- Sợ;  Lo lắng; Tức giận; Ấm ức; Khó chịu; Trầm cảm/cảm thấy buồn bã.

c. Những dấu hiệu hành vi:

- Nổi khùng; Có những lời nói xúc phạm người khác; Ngại tiếp xúc với người khác; Nói nhiều; Uống rượu, hút thuốc lá; Phản ứng chậm chạp; Phá phách, gây sự, đi lang thang; Tự gây thương tích…

3. Ảnh hưởng của căng thẳng:

- Cảm xúc tiêu cực dễ dẫn đến những hành vi tiêu cực do bản năng, cảm tính chi phối.

- Sự tức giận tác động tiêu cực cho sức khoẻ và mối quan hệ của con người.

4. Cách phòng ngừa

- Kỹ năng giảm áp lực cuộc sống, tăng nội lực bản thân.

- Cần biết cách phòng tránh để ít rơi vào trạng thái căng thẳng.

- Cần chủ động nhận biết căng thẳng và cảm xúc tiêu cực để tìm ra cách ứng phó.

- Không nên để cảm xúc chi phối hành vi, không nên hành động khi cảm xúc đang tràn đầy, hành động dễ sai lầm vì lúc đó không sáng suốt.

* Các cách giải tỏa tích cực có thể là:

- Giải tỏa bằng HĐ mạnh để xả sự tức giận( với điều kiện không làm tổn thương ai).

- Luyện thở. Đi ra chỗ khác, làm việc khác để kìm chế và đẩy lùi căng thẳng.

- Suy nghĩ tích cực: Sự diễn giải về ý nghĩa của sự kiện/tình huống có ảnh hưởng tới việc  con người có tức giận nữa hay không?

5. Cách quản lý cảm xúc trong 1 số tình huống căng thẳng do HS gây ra

 Người GV, đặc biệt là GVCN cần luyện tập quản lí cảm xúc trong các tình huống để tránh làm tổn thương HS bằng cách: 

- Hiểu ra cơn tức giận của mình là bước đầu tiên trong việc đề phòng và kiềm chế tức giận.

- Dù trong bất kì tình huống nào thì GV cần bình tĩnh, linh hoạt để tìm phương án xử lý tối ưu nhất. Tức giận kèm theo hành vi làm tổn thương người khác là khó có thể chấp nhận.

- Khi bị sốc GV áp dụng các cách giải tỏa căng thẳng, mặt khác  tăng cường ý chí để kiểm soát cảm xúc, không cáu giận, bị kích động 

- Cần suy nghĩ tích cực về tình huống xảy ra, nên nghĩ rằng: đó là hành vi chưa chín chắn, hoặc vô tình, nhất thời, bột phát của học sinh…

- Phản ứng của GV trong các TH gây sốc nên chậm lại. Cần tỏ thái độ như không để ý đến học sinh gây ra hành vi đối kháng.

- Có thể chuyển phản ứng thông qua việc vẫn thực hiện các hành động thường nhật.

- Cũng có thể pha trò, hài hước, kể chuyện trong các tình huống xung đột sẽ làm giảm đi không khí căng thẳng (VD: câu chuyện “Ứng xử thông minh của cô giáo…Cò Hương”).

- Đôi khi GV cần có phản ứng nghịch lý bằng cách coi như không hề bị căng thẳng làm cho HS chủ động gây ra tình huống có phần bối rối, hụt hẫng, tự thấy hành vi “vô duyên” lạc lõng, từ đó không có hành vi lặp lại.

VI. Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn xung đột trong tập thể lớp

1. GV phải nhận dạng những nguyên nhân nảy sinh MT, tìm hiểu cách giải quyết MT của học sinh và hậu quả của cách giải quyết MT tiêu cực.

a. Những nguyên nhân thường thấy dẫn đến nảy sinh mâu thuẫn giữa HS 

- Sự khác nhau về suy nghĩ và quan niệm.

- Sự khác nhau về mong muốn/ nhu cầu về lợi ích các nhân.

- Sự hạn chế do cách nhìn nhận sự việc/ vấn đề.

- Chỉ xuất phát từ ý muốn/ suy nghĩ chủ quan.  

- Thích gây hấn, hiếu chiến, thích người khác phải phục tùng, hay lệ thuộc vào mình.

- Sự kèn cựa, muốn hơn người của ai đó.

- Sự định kiến, phân biệt đối xử.

- Sự bảo thủ, cố chấp.

- Nói hoặc nghĩ không đúng về nhau

- Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác .

b. Các cách giải quyết HS thường  sử dụng:

 -  Nói chuyện với nhau để hiểu và thông cảm/ bỏ qua cho nhau

 - Cãi nhau, sau đó giận nhau không chào hỏi nhau

 - Đánh nhau, sau đó không thèm nhìn mặt nhau

 - Cố tình hủy hoại lẫn nhau về tinh thần và thể chất,...

Số lượt xem : 5259

Chưa có bình luận nào cho bài viết này